Suy thận cấp sau thận do tắc nghẽn đường tiểu

Hai quả thận là phần quan trọng nhất của hệ thống tiết niệu. Chúng có chức năng lọc các chất thải, độc hại trong máu để thải qua nước tiểu ra ngoài. Thận cũng có thêm các chức năng khác như: hằng định nội môi qua việc điều chỉnh ổn định các chất điện giải, độ toan-kiềm của máu, điều chỉnh cân bằng huyết áp và sinh mới hồng cầu chống thiếu máu.

Khi chức năng thận bị suy, suy thận, người bệnh sẽ bị ứ đọng các chất thải (urê, creatinine, ammoniac…), rối loạn điện giải, toan-kiềm, tăng huyết áp và thiếu máu (giảm hồng huyết cầu).

Nguyên nhân suy thận cấp

Lấy vị trí quả thận làm mốc, có thể chia suy thận cấp thành ba nhóm:

Với các nguyên nhân gây lượng máu tưới đến thận bị suy giảm cấp, nguy kịch như sau(1) Giảm thể tích tuần hoàn do mất máu vì gặp chấn thương, xuất huyết…, do mất dịch trong lòng mạch vì bỏng, viêm phúc mạc, viêm tụy cấp, tắc ruột, hạ albumin máu, biểu hiện thận hư, xơ gan, ỉa chảy, nôn…., do mất qua thận vì đái tháo đường nhiễm toan xeton, tăng áp lực thẩm thấu máu …, do mất ra da vì vả các giọt mồ hôi, bỏng nặng, hoạt động nặng kéo dài,rối loạn điều hoà thân nhiệt vì trúng nóng, say nắng, do giảm cung lượng tim vì nhồi máu cơ tim, tràn dịch màng tim chèn ép, nhồi máu phổi; (2) Bệnh mạch thận như hẹp, xơ vữa, co thắt, tắt mạch, nhồi máu mạch thận và (3)Rối loạn điều hoà mạch thận do nhiễm trùng, triệu chứng gan thận….

* Suy thận cấp tại thận (suy thận thực thể)* Suy thận cấp tại thận (suy thận thực thể)

Đó là nhóm lý do phổ cập nhất của suy thận cấp. Ba nhóm nguyên do gây suy thận cấp tại thận là: (1) Tổn thường ống thận do không đủ máu, tổn thương do thuốc (kháng sinh aminoglycoside, cephalosporin, amphotericin B, thuốc cản quang có iode, chất điều trị cisplatin), do độc chất như kim loại nặng, mật cá trắm, tổn thương ống dẫn thận thứ phát sau nhiễm khuẩn nặng, và tắc đường ống thận do dòng sản phẩm phân huỷ từ các tế bào như huyết cầu tố (hemoglobulin) & nhục tố (myoglobulin) vì tan máu, tiêu cơ vân, thương tổn cơ do nhiệt, myeloma; (2) Viêm thận kẽ do nhiễm trùng (streptococcus, pneumococcus…), virút (EBV, CMV, HIV), nấm (Mycoplasma), do thâm nhiễm (lymphoma, sarcoidosis); (3) Bệnh cầu thận như kháng thể màng đáy (hội chứng Goodpasture), viêm mạch Wegener, hội chứng tan máu tăng ure máu (HUS), triệu chứng tan máu giảm tiểu cầu (TTP).

* * Suy thận cấp sau thận (tắc nghẽn đường tiểu)

Những tắt nghẽn làm nước tiểu bí lại và gây suy thận thứ phát. Nhân tố gây tắc có thể là sỏi, u cục trong hệ tiết niệu (axít uric, canci oxalat, acyclovir, methotrexate, protein Bence Jone, cục máu tụ, sỏi, hoại tử nhú) hay do đàn áp từ từ ngoài (u sau phúc mạc, u tử cung, u xơ tiền liệt tuyến, u niệu đạo, u bàng quang, buộc nhầm niệu quản trong mổ đẻ...)


Làm thế nào xác định suy thận cấp

Thường bệnh nhân đi khám vì có dấu hiệu lâm sàng quan trọng nhất là tiểu tiện ít dần rồi không tháy có nước tiểu (vô niệu). Bệnh nhân có cảm giác mệt mỏi, khó thở, có thể bị phù mặt, chân….

Tại các cơ sở y tế, thầy thuốc nhanh chóng và dễ dàng xác định bệnh qua một mẫu xét nghiệm máu cơ bản để biết chính xác:

- Nồng độ creatinine, ure huyết tương, phản ảnh chức năng thận. Trong suy thận hai chất thải này đều tăng; tỷ lệ thuận với bệnh trạng: càng suy thận nặng nồng độ càng tăng cao tăng.

- Rối loạn điện giải máu, thường natri giảm và kali tăng.

- Toan chuyển hóa, thể hiện độ axít máu tăng (pH giảm), dự trữ kiềm giảm.

Xem thêm: http://suythan.net

Follow
4.7 Star App Store Review!
Cpl.dev***uke
The Communities are great you rarely see anyone get in to an argument :)
king***ing
Love Love LOVE
Download

Select Collections